Mùa Hè bên này, bên kia

     Cuối cùng rồi Irene cũng ra đi chẳng hẹn một ngày gặp lại. Nhưng không giống như những Hồng, Nhung, Trúc… thuở nào, ra đi để lại cho tôi bao buồn phiền và một trái tim đầy sẹo, rất lâu và lâu lắm mới trở lại vá víu, bình thường. Lần này, tuy cũng để lại nhiều tàn phá, chứng tích đầy dãy, nhưng nàng Irene này mới rời xa tôi đã thở phào nhẹ nhỏm. Irene ra đi để lại những vết sẹo loang lổ trên đường, những tàng cây gãy ngập lối, những căn nhà siêu vẹo. Nhưng điều buồn thay, lần này nàng lại lấy theo hơn 40 mạng người. Người thì chết vì cây ngã đè, người thì bị nước cuốn trôi trong cơn lũ, cũng có người chết vì bị nhà cửa sụp đổ.

     Theo báo đài, thiệt hại vì Irene trong toàn vùng ảnh hưởng tương đương với nhiều tỷ dollars trong vài ngày nàng bay qua. Không biết tự bao giờ mấy nhà khí tượng học lại đặt tên cho những cơn bão bằng những cái tên mỹ miều của quí bà. Nào là Laura, Ana , Karen rồi trận bão kinh hồn vài năm trước đây, Katrina, tàn phá khủng khiếp miền đông nam duyên hải Hoa kỳ. Có người lý giải rằng, những cơn bão mang tên đàn bà thật đẹp như để an ủi con người khi họ phải gánh chịu tai ương, mất mát. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại cho rằng, bão được ví như người đàn bà. Họ càng đẹp hay chỉ có cái tên đẹp thôi muôn đời vẫn mang theo bao tai ương khi ghé qua một chốn nào. Năm nay mới đầu mùa, Irene đã lạnh lùng tiến vào miền nam, nhưng lần này lại len lỏi lên tận miền đông bắc Hoa Kỳ của tôi. Dù muốn dù không, dù miễn cưỡng hay háo hức nhà nhà đều phải đón nàng. Irene kiều diễm vẫn là một trong những loại bông hồng, dĩ nhiên phải mang nhiều gai nhọn.
Mấy ngày trước, tin bão Irene sẽ đến với sức gió rất mạnh nên các tiểu bang miền đông bắc hầu hết đều công bố tình trạng khẩn cấp. Những gia đình gần biển được khuyến cáo di tản, nhà cửa phải chuẩn bị chống đỡ kỷ càng. Vùng tôi ở, Massachusetts, tuy không ban bố tình trạng khẩn cấp nhưng có tiên đoán sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Mấy ngày cuối tuần, không như thường lệ, mọi người hay chuẩn bị để đi chơi xa, nhất là mùa hè cũng sắp hết. Cuối tuần này, mọi nhà cuống cuồng đổ vào những siêu thị thực phẩm để mua đồ dự trữ. Cứ như là tiên đoán sắp có chiến tranh thế giới vậy, từng thùng thịt hộp, bánh mì, rồi nước đóng chai sẵn được khiêng ra chất vào xe. Có người còn lo xa hơn nên chơi lên xe vài thùng bia cho chắc ăn, có đồ để lai rai trong những ngày cuối tuần không được ra ngoài bù khú với bạn bè. Nhà tôi cũng nhắc nhở tôi đi mua thức ăn và nước uống. Buổi chiều đi làm về, rúc đầu vào computer lang thang đọc mấy tin tức ở quê nhà nên tôi quên mất. Thôi thì có tạm thùng mì gói, nước thì lấy thùng hứng đỡ trong robinet, có ai biết đâu. Có gì kẹt không ra khỏi nhà được, tạm nhai đỡ mì gói, uống nước này cũng cầm cự được vài ngày chớ ít sao. Tối về nàng nhăn tôi quá trời. Nghe tôi nhỏ nhẹ phân tích rằng, chổ mình ở đâu có ban bố tình trạng Emergency đâu, vả lại mình đã từng là boat people thì vài bữa nhịn đói, nhịn khát thì có nhằm nhò gì. Bực bội, nàng phán một câu xanh rờn như muôn thuở “mấy ông Quảng Nam-Đà Nẵng chỉ có tài cải bướng và chây lười là giỏi mà thôi”. Biết lỗi, tôi giả lả cười trừ, làm bộ chăm chú theo dõi tin tức thời tiết. May mắn thay, nàng Irene sau khi tàn phá những tiểu bang phía nam Masachussets , lên đến đây thì đổi hướng hơi chếch về phía tây, sức hấp dẫn, í quên, sức gió thì cũng giảm đi rất nhiều. Chủ nhật Boston có mưa lớn và những cơn gió chỉ đủ làm gãy vài cành cây nhỏ ven đường. Thành phố vắng lặng không tiếng xe cộ, gió rít từng cơn trên ngọn cây, mái nhà. Lúi húi pha cho mình ly cà phê, tôi nhìn ra ngoài đường đang trong mịt mù gió, mây, nước. Cảm giác an toan, thi vị như những ngày mưa bão quê nhà.

     Cuối tháng 8, sau bão thời tiết đã khá lạnh ở đầu ngày. Vậy là lại sắp hết một mùa hè nữa rồi. Không như mùa hè ở Việt nam, thông thường kéo dài lê thê từ đầu tháng 5 cho đến giữa tháng 9. Ở vùng Đông bắc Hoa kỳ này, nếu gọi đúng nghĩa của thời tiết cho mùa hè thì chỉ kéo dài từ giữa tháng 6 cho đến cuối tháng 8. Đầu tháng 5 mới bắt đầu mùa xuân. Nhưng thời tiết lại lúc trồi lúc sụt cho đến tháng 7 ta mới cảm nhận được cái nóng oi bức của hè. Loay hoay chừng hơn một tháng, mấy hôm nay tối ngủ đã cảm thấy hơi lạnh của mùa thu cận kề. Mùa hè ở đây quá ngắn ngủi nên mọi người luôn tận hưởng thời gian này với niềm khát khao, vồ vập. Họ mong mỗi phút giây của hè là một cơ hội quí báu để vui đùa, để tổ chức hội hè. Thật tình tôi tiếc nuối làm sao những ngày hè khi còn ở quê nhà. Nhất là khoảng thời gian nghĩ hè của thời học sinh, kéo dài đến 3 tháng lận. Thời gian này đủ để ta nhẫn nha, cứ từ từ mà vui chơi không gấp gáp gì. Buổi sáng, nếu không ngủ nướng ta có thể đi biển, hay tà tà cà phê cà pháo. Về lại, ăn trưa xong làm một giấc cho đến xế. Chiều lấy xe đạp vòng vo đến nhà mấy người bạn tán láo. Cứ vậy mà lặp lại trong 3 tháng hè, tuổi trẻ rong chơi vô tư như quỉ thời gian chẳng bao giờ cạn hết. Tháng ngày của mùa hè ngày xưa như chậm chạp, ngưng đọng chung quanh ta. Nắng chiều cũng vậy, nó như nhẩn nha, chờ đợi, chiếu rọi trên những mái nhà, tàng cây rất lâu mới chịu phù dày bóng tối.
      Mấy hôm nay, mọi người như hối hả để tận hưởng những ngày cuối cùng của mùa hè. Họ ùn ùn lên núi cắm trại, xuống biển bơi lội hay thăm viếng bạn bè. Tôi thì cũng nao nức như vậy nhưng làm theo cái cách tà tà “3NG” muôn đời của dân ta: Ngồi, Nghĩ và Ngắm bàng quang thiên hạ chung quanh. Ba tư thế này nếu biết tận dụng cũng đủ cho ta có một ngày hè tuy thong thả mà tuyệt vời. Chớ đi đâu cho xa mà vội mà vàng, mệt lại tốn bộn tiền nữa. Chiều nay cũng vậy, buồn tình gọi vào chổ làm xin nghĩ một ngày. Tôi thong thả ra trạm xe lửa điện gần nhà, đáp chuyến xe đến Harvard square, tìm đến quán Au Bon Pain như mọi lần. Chổ này, hơn mười năm tôi đã đến và đi bao lần, quen thuộc như một nơi chốn nghĩ ngơi, tạm quên đi bao chuyện lo lắng cơm, áo, gạo, tiền (bill)… hằng ngày. Ngồi nơi đây, dưới những tàng cây lớn, ngắm ông đi qua bà đi lại, ta được cái lợi thế là thấy rõ mọi người mà không lộ liễu cho lắm. Mùa hè, nam thanh nữ tú các nơi thường tụ về, tham quan những trường đại học chung quanh nên không khí thật rộn ràng. Ôi thôi phải biết, trời càng nóng lại như nóng hơn với áo quần giản tiện tối đa mà những kiều nữ tóc vàng, tóc xanh, tóc đen, tóc đỏ khoát lên người, lựon lờ trên phố phường. Vừa nhâm nhi ly cà phê giá chỉ hơn $2, nghe nhạc sống của street singers, lại vừa được ngắm các tiên nữ của mùa hè thì còn gì bằng phải không các bạn. Nói thì nói vậy chớ từng tuổi này cũng khá bộn rồi, đâu còn ham hố như trước nữa, chủ yếu là để thư giản tâm hồn cho bớt già nua theo năm tháng mà thôi. Người ta thường nói tuổi già nhớ trước quên sau để diển tả người già thường nhớ đó rồi lại quên ngay. Nhưng theo tôi, khi đến tuổi già, những chuyện hiện tại thì ta hay quên nhưng những gì xảy ra trong quá khứ rất xa thì lại nhớ kỷ càng. Hơn 5 bó rồi, chưa phải là tuổi để gọi là lú lẫn, nhưng tôi cũng bắt đầu hay quên những chuyện lặt vặt hằng ngày. Rõ ràng là mình dự định làm chuyện quan trọng này trong ngày, đến giờ đó lại mang máng hình như mình cần gì đó rồi lại không nhớ nổi nên thôi. Đến lúc sực nhớ hay được nhắc nhở thì mới giật mình cho cái trí nhớ càng ngày càng tồi tệ của mình. Không tin tưởng vào bộ nhớ của mình nữa rồi, thôi đành phải nhờ cái computer để nó nhắc nhở cho đúng ngày giờ là chắc ăn nhất. Nhưng ngược lại, những chuyện thật xa xưa, đâu hồi còn chưa biết bận underwear (như ông bạn Phát lùn hay nói) lại nhớ rõ tường tận mới chết chứ. Cứ như là bộ não của mình đã đầy ấp những câu chuyện hấp dẫn ngày xưa, đến nay thì đã overload nên không còn chổ để nhồi nhét thêm những gì mới mẻ nữa.
      Hôm qua, nói chuyện với người bạn thân thật vui. Năm thuở mười thì, ông Thanh (tự Thanh Nghé) này mới gọi cho tôi, nhưng mỗi lần tán chuyện với ông này thì cả khối chuyện cười ra nước mắt được nhắc lại. Nào chuyện chọc phá, đánh lộn nhau từ hồi còn chung mái trường TTGD Nguyễn Hiền ở Đà nẵng. Chuyện cà phê hè phố sau ngày đổi đời, đổi chế độ. Rồi chuyện vượt biên của bạn bè trong những năm 70, 80. Bao điều được nhắc đến, vui cũng có nhưng có lúc cũng chùng lòng khi nhắc đến những chuyện ai còn ai mất.Thanh kể cho tôi nghe về những ngày mới vượt biên đến trại tị nạn Hong kong. Ngoài chuyện đời sống hằng ngày ở đây, anh còn nhắc đến một người bạn học với hai đứa tôi bao năm, từ lúc tiểu học rồi lên trung học. Anh Giang xương Dân, người bạn Việt gốc Hoa trong lớp, nhà có xưởng chuyên sản xuất xì dầu ở đường Nguyễn Tri Phương thì phải. Anh Dân này ngoài chuyện học hành còn để lại trong bạn bè tôi nhiều giai thoại rất vui mà đến bây giờ tôi không quên được.
      Trước những ngày thay đổi 1975, thành phố Đà nẵng của chúng tôi là đô thị sầm uất thứ nhì của miền Nam Việt nam. Đà nẵng là nơi mà đông đảo cư dân các nơi di chuyển đến để tìm cơ hội làm ăn buôn bán. Ngoài đa số là người Việt, Đà nẵng còn có rất nhiều người gốc Hoa sinh sống. Họ hầu hết đều rất thành công trên thương trường, là chủ của các cửa hàng lớn trên những đường phố chính. Vì vậy ngoài bạn bè Việt chính cống, tôi còn có nhiều người bạn Việt gốc Hoa nữa. Gia đình những người bạn này hầu hết sang Việt nam qua nhiều đời nên tiếng Việt rất sành sỏi. Nhiều người viết văn, văn nghệ văn gừng còn hay hơn người Việt chính cống nữa. Nhưng cũng có những người như bạn Dân, có lẻ gia đình mới sang Việt nam sau này, hoặc gia đình vẫn còn giữ nếp sống như hồi còn ở quê nhà. Do đó,Dân tuy học trường Việt nhưng trong giọng nói và phong cách cũng hơi khan khác bạn bè trong lớp, mà nói theo kiểu vui đùa lúc bây giờ là nó rất “ba tàu chợ lớn”. Đó cũng là một điều mà mấy thằng ngổ nghịch tụi tôi hay đem ra làm đề tài để chọc phá. Nhưng mỗi lần nhắc đến anh Dân thì tụi tôi làm sao quên được T, một trong những nữ sinh của lớp. Tôi nhớ, đâu khoảng lớp 7 hay 8 gì đó, anh chàng Dân này bổng nhiên can đảm tuyên bố có cảm tình với nàng T. Tuổi mới lớn của mấy thằng con trai như tụi tôi lúc đó, dù cũng bắt đầu để ý đến các nàng trong lớp. Nhưng chỉ cần đụng mặt nhau tim đã đập loạng xạ, nói ấp úng không nên lời chớ đừng nói công khai tỏ bày với nàng như vậy. Lớp tôi xem đó là một hiện tượng lớn, mấy thằng đực rựa như tụi tôi xúm nhau bàn tán, chủ yếu chuyện chọc phá là chính mà thôi. Mấy ông trong đó có tôi còn bày đặt làm quân sư quạt mo cố vấn cho Dân, chỉ vẻ chàng ta làm sao để chiếm được cảm tình của nàng. Ngoài chuyện mỗi ngày khuyên Dân nên cố gắng gặp gỡ bắt chuyện với T, hay thường xuyên đạp xe qua lại trước nhà nàng, bọn tôi lại còn xúm nhau viết giúp Dân những lá thư tình sặc mùi tiểu thuyết Quỳnh Dao để lâu lâu đặt dưới bàn học của T. Không biết T có đọc không, nhưng thấy mặt nàng vẫn lơ là, tỉnh queo làm Dân thì buồn mà cả đám tôi cũng cụt hứng theo.
      Tôi vẫn nhớ lúc đó một số thanh niên ảnh hưởng của phim Tây nên rất ái mộ những tài tử như Alain Delon, Leonard Whiting hoặc Robert Mitchum… Ngoài ra, qua những bộ phim từ Hong Kong đưa sang, những nhân vật anh hùng cứu thế, đẹp trai như Lý tiểu Long, Khương đại Vệ, Địch Long cũng một thời là thần tượng của tuổi mới lớn tụi tôi. Trong số đó có lẻ chàng tài tử quá cố Lý tiểu Long là được nhiều người ái mộ nhất. Anh chàng Dân mà tôi đã nhắc ở trên là một trong số bạn bè cùng lứa của tôi mê Lý tiểu Long. Chắc vì có gốc gác của người Hoa từ Hong Kong hay sao mà Dân cũng hao hao giống tài tử này. Dân luôn cố tạo dáng dấp sao cho giống thần tượng của mình. Tóc lúc nào cũng cắt ngang phía trước, phía sau để hơi dài, dáng đi thì khuỳnh khuỳnh hai tay như chuẩn bị phóng một cước vào mặt đối thủ vậy. Có lẻ vì ngứa mắt hay vì nàng T mà trong lớp tôi cũng xảy ra nhiều trận ác đấu kinh hồn giữa Dân và vài bạn khác. Tuổi thiếu niên mới lớn, ngựa non thì hấu đá nên cũng gây ra nhiều hận thù trẻ con lắm. Nhưng đâu được vài tuần thì các đấu thủ lại quên chuyện tranh hùng, trở lại là bạn bè thân thiết đùa giỡn chọc phá nhau như cũ.
      Chuyện theo đuổi của chàng Dân đối với T cũng kéo dài khá lâu thì phải, nhưng tình cảm của tuổi học trò mà, chẳng đi tới đâu cả. Thời gian sau thấy T bực bội vì những trò chọc phá nên tụi tôi cũng không bày trò nữa. Lâu ngày, chuyện học hành rồi chiến tranh ngày càng cận kề chiếm hết tâm trí nên tôi cũng quên khuấy mất chuyện này cho đến ngày bạn bè mỗi người mỗi ngã. Sau ngày Đà nẵng mất vào tay miền Bắc thì tôi không còn gặp anh chàng này nữa. Theo bạn bè cho biết thì Dân đã qua Hong kong vì gia đình vẫn giữ quốc tịch của đảo này. Điều ông bạn Thanh rất cảm động là khi một thân một mình đến trại tị nạn Hong Kong, nhắn tin để tìm Dân thì anh bạn này đến thăm ngay. Bạn bè trong hoàn cảnh này mà gặp được nhau đã là quí rồi,huống gì Dân đã giúp bạn cũ rất nhiều trong những ngày đầu bở ngỡ. Cách đây khá lâu tôi có gặp lại nàng T trong kỳ họp mặt của cựu học sinh Đà nẵng. Nhắc lại chuyện cũ, T tuy vẫn còn thẹn thùng nhưng không còn bực bội như xưa mà nói “Lúc đó mỗi lần bị ông ấy đón đường T sợ dễ sợ”. Trong ánh mắt, giọng nói của T tôi như thấy được nó mang cả một niềm tiếc nhớ những ngày vui tươi học trò. Mang theo cả bóng dáng của T, của P, của H, của Đ… trong sân chơi trường cũ, với tóc mai mềm mại, những giọt mồ hôi lấm tấm trên khuông mặt ửng hồng màu nắng hè Đà nẵng. Hôm nay nhắc lại người bạn cũ, tuy vui nhưng đâu đây tôi vẫn có chút ân hận vì những trò chọc phá lúc xưa của mình. Những đùa cợt tuy bề ngoài vô tư nhưng đâu đây vẫn ẩn chứa cái hơi ác, chút nhẫn tâm của tuổi trẻ non nớt. Cái chân tình của Dân đối với T chỉ là sự thường tình khi mới lớn, biết rung động trước vẻ đẹp, dể thương của người bạn gái cùng lớp. Tuy nhiên nó lại tạo thành một đề tài châm chọc, cười cợt giữa lũ bạn chúng tôi. Dù ít dù nhiều trong những suy nghĩ chọc phá đó vẫn mang chút gì như kỳ thị địa phương, chủng tộc tính tinh quái. Sau này, khi cũng làm thân nương nhờ ở đậu xứ người, cũng buồn phiền vì bị chế diểu khi giao thiệp với người bản xứ tôi như thấm thía hơn về chuyện cũ. Lòng tôi chợt nao buồn, ân hận như cảm giác trong một lần tình cờ bắt gặp lại món đồ chơi cũ mà mình đã vô tình làm sứt gãy ngày còn thơ ấu.
      Chiều của những ngày cuối hè trôi qua thật mau. Ly cà phê tôi uống dở chỉ còn màu đen lạt do trộn lẫn nước đá tan loãng. Những vệt nắng cuối ngày xuyên qua kẻ lá, đọng lại từng đốm sáng vàng trên chiếc bàn con trong hàng hiên quán Au Bon Pain. Tôi nhìn qua bên kia đường, bên trong bức tường gạch cổ kính là khung viên của trường Harvard, bên ngoài là khu quảng trường mang cùng tên gọi. Trái với im lìm cổ kính bên trong, ngoài này tấp nập những người trẻ, áo quần mang dáng dấp bụi đời, tụ tập nhau đàn hát những bài ca mang tính nổi loạn. Chỉ là khoảng cách vài bước chân qua bức tường nhưng có bao giờ ta vượt qua được để xóa nhòa cái ranh giới định kiến xã hội, người trong kẻ ngoài. Không gian đã là vậy huống gì thời gian trừu tượng, có bao giờ ta bắt gặp lại được chính mình dù chỉ trong một khoảng khắc quá khứ. Con người quả thật quá nhỏ bé, bất lực trong dòng chảy thời gian vô tận. Hãy nhìn người nhạc sĩ hằng ngày hát dạo ở đây. Mười năm trước là gã lãng tử phông độ, vai mang đàn miệng hát những khúc tình ca. Bây giờ, cũng là những bản nhạc đó, nhưng tóc anh đã trắng một màu, thân hình ốm yếu, lưng còng sau chiếc đàn guitar ngày một cũ. Làm sao ta có thể níu kéo để hình ảnh anh ta trở về dáng dấp của mười năm trước được. Tôi đã xa bạn bè hơn 30 năm, khoảng thời gian quá dài để bao nhiêu là “nước sông, nước suối, nước cống, nước mưa và kể cả nước mắt nữa chảy qua cầu”. Vậy chắc gì mình nhớ được nguyên vẹn những câu chuyện của ngày củ. Nhưng chiều nay tôi thử cố một lần, kiểng chân lên trên bức tường thời gian để mong nhìn thấy lại được quá khứ. Để thấy được mấy thằng bạn ở xóm nhà lá cuối lớp, học hành thì ít mà chọc phá thì nhiều. Để thấy được những cô bạn cùng lớp, đầu các dãy bàn, bộ dáng hiền thục nhưng tinh nghịch trong áo dài trắng thướt tha. Cuối cùng, tôi cũng mong gặp lại anh bạn Dân một lần, không phải để bàn tán về cô bạn cũ tên T đâu mà để nắm tay nhau cười xòa nuối tiếc. Nhắc lại chuyện cũ, nhưng chắc gì tôi bày tỏ nổi với anh một lời xin lỗi dù muộn màng.

Trương Hữu Hiền
Labor Day, 2011


Thu Quyến Rủ – LP

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *